NÉT ĐẸP VĂN HÓA: TUỒNG VIỆT NAM

Tuồng (hay Hát Bội) là nghệ thuật kịch hát cổ điển và bác học bậc nhất Việt Nam. Trải qua bao nhiêu năm bao nhiêu thế hệ, hình thức nghệ thuật đẹp đẽ này vẫn luôn ở đâu đó trong nền văn hóa Việt Nam. Nhưng dần theo thời gian hình thức này không còn được phổ biến nữa vi thiếu đi người xem, thiếu đi người hiểu và thiếu đi người hy sinh vì thể laoị nghệ thuật này.

Khác với hát chèo hay cải lương tập trung ở nông thôn, chủ yếu sử dụng ngôn ngữ bình dân và kể những câu chuyện ước vọng thường ngày – tuồng mang đặc trưng thẩm mĩ trí tuệ, được trình diễn ở cả những không gian tôn giáo và cung đình trên khắp đất nước Việt Nam.

(Nguồn ảnh: VVHB).

Ngôn ngữ của tuồng xuất phát trên cơ sở tôn giáo, kết hợp nhuần nhị tiếng Hán và văn Nôm theo lối văn biền ngẫu, thấm nhuần văn hoá ứng xử thâm sâu của ông cha. Vũ đạo của tuồng không chỉ chắt lọc những động tác trong sinh hoạt hàng ngày, mà còn tiếp thu tinh hoa của những hình thái múa dân gian, múa tín ngưỡng, tôn giáo, múa cung đình và võ thuật dân tộc. Diễn xuất trong tuồng nặng tính ước lệ, khuyếch đại – người diễn viên cũng như nghệ sĩ Opera, phải hát bằng giọng thật rút ruột, rút gan, to, vang, cao cho hàng nghìn người xem. Không chỉ dựa vào nghệ thuật hoá trang đặc thù để thể hiện rõ các tuyến nhân vật (mặt trắng là người tốt đẹp, trầm tĩnh; mặt đỏ có tròng xéo đen là người vũ dũng…), mỗi nhịp điệu giơ chân nhấc tay của người diễn viên đều ước lệ một ý nghĩa, tính cách khác nhau. Hơn cả, nội dung hát bội là sân khấu của những người anh hùng. Âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mĩ của hát bội. Hát bội từng được chủ tịch Hồ Chí Minh yêu thích và công nhận là vốn quý, là “quốc hồn, quốc túy” của người Việt, sánh như Kinh kịch của Trung Quốc hay kịch Noh của Nhật Bản. Bảo tồn hát bội không chỉ là tôn vinh một hình thức nghệ thuật cổ truyền của, mà còn nuôi dưỡng niềm tự hào về chiều sâu trí tuệ, thẩm mĩ của dân tộc trong những thế hệ tương lai.

Thế nhưng, nếu như cả Kinh Kịch và kịch Noh đều đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể – Tuồng, với chiều sâu văn hoá và đặc trưng thẩm mỹ ấy lại chưa từng được vinh danh, lại đang dần mai một, bấp bênh trong đời sống hiện đại. Chính Giáo sư Hoàng Chương, một người tâm huyết bậc nhất với tuồng từng phát biểu: “Trong lịch sử sân khấu Việt Nam, chưa có ngành nghệ thuật nào có nhiều vấn đề như nghệ thuật Tuồng. Những mâu thuẫn trong cách nhìn nhận và bảo tồn nghệ thuật Tuồng kéo dài qua nhiều thập kỷ”.

Do đó chung ta hãy chung tay cùng bảo vệ nét đẹp văn hóa, nghệ thuật dân tộc để nó không bị phai mờ theo thời gian và mọi người sẽ hiểu rõ nó nhiều hơn nữa.

Nguồn: (Sưu tầm).